Phạt vi phạm & bồi thường thiệt hại trong Dân sự, Thương mại & Xây dựng

2017-03-21 20:15:12 GMT+7

“Phạt vi phạm” hay còn gọi là “phạt vi phạm hợp đồng” là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

 


Mức phạt vi phạm trong hợp đồng dân sự do hai bên thỏa thuận, còn trong thương mại và xây dựng thì căn cứ vào giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, và không quá 8% hoặc 12% (ảnh minh họa)  
 
Ls. Trần Hồng Phong giới thiệu

I. Giải thích & nguyên tắc chung

Bộ luật dân sự 2015 quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc như sau:

“Hợp đồng” là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong một sự việc hay lĩnh vực nào đó.

Nếu hợp đồng trong lĩnh vực dân sự (như mua bán nhà, xe ô tô …) giữa các cá nhân với nhau, thì gọi là “hợp đồng dân sự”.   

Nếu hợp đồng giao kết mà trong đó ít nhất một bên tham gia có mục đích sinh lợi, thương mại và có đăng ký kinh doanh, chẳng hạn như công ty A bán sản phẩm do mình sản xuất cho công ty B, thì gọi là “hợp đồng thương mại”.

Nếu hợp đồng trong những lĩnh vực được chuyên biệt hóa, có luật riêng, thì hợp đồng sẽ mang tên lĩnh vực đó. Chẳng hạn như hợp đồng thi công xây dựng công trình ký giữa hai công ty – quy định trong Luật xây dựng, thì gọi là “hợp đồng xây dựng”  

“Vi phạm hợp đồng” là hành vi một bên vi phạm (một hoặc nhiều) nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết.

Ví dụ 1: công ty A và công ty B thỏa thuận (trong hợp đồng bán hàng) là công ty B sẽ thanh toán tiền mua hàng vào ngày 10/03/2017. Nhưng đến ngày đó công ty B không thanh toán. Như vậy công ty B bị xem là “vi phạm hợp đồng”. Cụ thể hơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

“Phạt vi phạm” hay còn gọi là “phạt vi phạm hợp đồng” là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Chẳng hạn như trong vídụ 1 nêu trên, trong hợp đồng bán hàng giữa hai bên quy định “nếu công ty B chậm thanh toán tiền mua hàng, thì sẽ bị phạt 1% giá trị lô hàng cho mỗi ngày chậm”. Đây chính là thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng.  

Việc phạt vi phạm hợp đồng không mang tính bắt buộc, mà do các bên thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên thỏa thuận này (nếu có), thì phải thể hiện rõ trong hợp đồng. Nếu trong hợp đồng không có nội dung này, thì xem như hai bên không thỏa thuận.
 
II. Thỏa thuận phạt vi phạm & thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng trong Dân sự

Trong lĩnh vực dân sự, tại Bộ luật dân sự (2015) quy định như sau:

1. Thỏa thuận phạt vi phạm (Điều 418)

1. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.


Qua quy định ở trên chúng ta thấy rằng:

KHÔNG CÓ GIỚI HẠN VỀ MỨC PHẠT VI PHẠM TRONG DÂN SỰ.

CÓ THỂ THỎA THUẬN CHỈ BỊ PHẠT VI PHẠM MÀ KHÔNG PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI.

Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm, nhưng không đề cập việc vẫn phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm sẽ không phải bồi thường thiệt hại.

Ví dụ 2: Ông A bán cho ông B một căn nhà. Trong hợp đồng mua bán nhà quy định nếu ông A chậm giao nhà thì bị phạt 5 triệu đồng/ngày chậm. Sau đó, ông A đã không giao nhà đúng hạn mà chậm tới 30 ngày. Do việc này, ông B phải đi thuê chỗ khác ở tạm mất 20 triệu đồng. Số tiền thuê nhà này có thể xem là thiệt hại. Nhưng do trong hợp đồng chỉ nói đến việc phạt vi phạm, mà không đề cập việc bồi thường thiệt hại, nên ông B không có quyền yêu cầu ông A phải bồi thường thiệt hại cho mình (mà chỉ được nhận tiền phạt vi phạm).

2. Bồi thường thiệt hại & trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Điều 13 Bộ luật dân sự (2015) quy định như sau: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

Điều 360 Bộ luật dân sự (2015) quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ như sau: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

Quy định như trên hiểu một cách đơn giản là: Bên vi phạm nghĩa vụ, mà hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên kia, thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, hoặc luật có quy định khác.

Điều 419 Bộ luật dân sự (2015) quy định về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng như sau:

1. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

2. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.


Quy định trên có thể hiểu đơn giản như sau:

- Mức yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể bằng và là lợi ích mà lẽ ra sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại.

Ví dụ 3: Ông A cho ông B thuê nhà 5 triệu đồng tháng. Thời gian hợp đồng là 1 năm. Tuy nhiên sau 3 tháng ông B không thuê nữa. Điều này làm ông A phải tìm người thuê mới trong 3 tháng. Như vậy, khoảng thời gian 3 tháng không có người thuê, tương đương thu nhập 15 triệu đồng, chính là khoản thiệt hại mà lẽ ra ông A được hưởng theo hợp đồng cho thuê nhà. Do vậy, ông A có quyền đòi ông B bồi thường cho mình 15 triệu đồng.  
 
- Có thể đòi bồi thường thiệt hại về “tinh thần”, chứ không chỉ đơn thuần là tiền.

III. Mức phạt vi phạm trong hợp đồng Thương mại tối đa là 8%:

Trong hợp đồng Thương mại, Điều 301 Luật thương mại (2005) quy định như sau:

“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”.

(Ghi chú: Điều 266 là quy định về trường hợp kết quả giám định sai).


Với quy định như trên, cần lưu ý là mức phạt tính theo “giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”, chứ không phải là “giá trị hợp đồng”. Do vậy, nếu trong hợp đồng ghi là phạt “8% giá trị hợp đồng” thì có thể là chưa được “chuẩn”, có thể bị xem là thỏa thuận vô hiệu do trái luật (nếu có tranh chấp, phải đưa ra Tòa án giải quyết).

Ví dụ 4: Công ty A bán cho công ty B 500 chiếc xe gắn máy. Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng là “bên vi phạm sẽ bị phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Sau đó công ty A giao xe cho công ty B, và có 50 chiếc xe bị hư hỏng phần yên xe. Như vậy, trị giá 50 chiếc yên xe bị hư hỏng chính là “phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”.  

Ngoài ra, cần lưu ý là ngoài việc phạt vi phạm hợp đồng với mức tối đa là 8% như nói ở trên, về nguyên tắc bên bị vi phạm còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Và để bảo đảm chắc chắn sẽ được quyền đòi bồi thường thiệt hại, các bên cần phải thỏa thuận và ghi rõ về việc “bồi thường thiệt hại” vào trong hợp đồng thương mại. (Cùng việc ghi “phạt vi phạm hợp đồng”).

IV. Mức phạt vi phạm trong hợp đồng Xây dựng tối đa là 12%:

Điều 146 Luật xây dựng (2014) quy định về việc thưởng, phạt hợp đồng xây dựng, bồi thường thiệt hại do vi phạm và giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng như sau:

1. Thưởng, phạt hợp đồng xây dựng phải được các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng.

2. Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Ngoài mức phạt theo thỏa thuận, bên vi phạm hợp đồng còn phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, bên thứ ba (nếu có) theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan khác.


Với giải thích ở các phần phía trên, hẳn mọi người sẽ hiểu về quy định trên.

Tôi chỉ muốn nhấn mạnh là: mức phạt trong hợp đồng xây dựng là cao hơn mức phạt trong hợp đồng thương mại. Cụ thể là 12% (so với 8%). Tuy nhiên vẫn có thể thấp hơn so với mức thỏa thuận trong hợp đồng dân sự.
……….
 
 
 
 
 
Công ty luật hợp danh Ecolaw giữ bản quyền nội dung trên website này
Trụ sở: 23 Lê Lư, P. Phú Thọ Hoà, Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh
Website: www.ecolaw.vn - Email: ecolaw1@ecolaw.vn