Hỏi về “quyền công dân” trong thời gian bị tạm giam

2016-07-04 15:40:11 GMT+7

Hỏi: Xin chào luật sư! Người thân của tôi bị khởi tố về tội chiếm đoạt tài sản và đang bị tạm giam để điều tra 4 tháng. Gia đình tôi có nhờ luật sư xin tại ngoại để điều tra nhưng chưa được, đã 1,5 tháng mà luật sư và gia đình không được biết thông tin gi về người ấy ngoài 1 lần có cuộc điện thoại gọi đến nhà nhắn người nhà tôi mang đồ vô trại gửi nhưng không được gặp trực tiếp. Bên phía luật sư nói với gia đình tôi khi nào có lịch thẩm vấn thì luật sư mới được gặp thân chủ.

Vậy xin luật sư giải đáp 2 thắc mắc của tôi:

- Khi 1 người bị bắt tạm giam để điều tra tức là người đó chưa bị định tội thì có còn quyền công dân không? Nếu còn quyền công dân thì tại sao lại bị giam giữ không được tiếp xúc với bất kỳ người thân thậm chí cả luật sư bảo vệ mình mà phải đợi đến khi có lịch thẩm vấn mới được gặp luật sư?

- Tại sao lại giam giữ một người quá lâu mà không thẩm vấn, có hay không chuyện bên công an điều tra thẩm vấn hay ép cung (thậm chí đánh đập) người đó trong thời gian này (tức 1,5 tháng tạm giam để chờ lịch thẩm vấn) khi mà người đó không có bất cứ sự bảo vệ nào?

Gia đình chúng tôi đang rất lo lắng cho sức khoẻ và tinh thần của người thân mình, mong nhận được lời hồi đáp của luật sư. Xin chân thành cám ơn ( Duy Ng.)

Luật sư Trần Hồng Phong trả lời:


Người thân của anh đang bị điều tra về tội hình sự nên trong giai đoạn này gọi là “bị can” (khi ra Tòa thì gọi là “bị cáo”). Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự - để bảo đảm cho việc điều tra, xét xử và thi hành án. Theo đó, trong những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;

b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

Thì cơ quan tiến hành tố tụng có quyền bắt tạm giam bị can, bị cáo.

Khi một người bị tạm giam tức là đã bị “giam giữ” về thân thể, bị mất tự do. Do vậy, chắc chắn sẽ không thể thực hiện được rất nhiều việc như người bình thường khác. Chẳng hạn như không thể đến cơ quan làm việc, không thể đi xem phim, không thể tự do tắm rửa, ăn uống …vv. Trong những điều bị hạn chế như vậy, chắc chắn sẽ có những điều thuộc về “quyền công dân”. Chẳng hạn như bầu cử, họp hành. Hay nói cách khác, người bị tạm giam không bị tước đoạt hết, nhưng bị hạn chế về quyền công dân.

Theo qui định, gia đình cũng có thể làm đơn bảo lãnh xin tại ngoại cho người bị tam giam. Nhưng việc có được chấp thuận hay không là do cơ quan tiến hành tố tụng. Thậm chí nếu cảm thấy “an tâm, an toàn” thì ngay cả trường hợp gia đình không bảo lãnh thì người đang bị tạm giam vẫn có thể được cho tại ngoại (nhưng có thể bị cấm đi khỏi nơi cư trú).

Theo qui định, luật sư có quyền tham gia vào vụ án hình sự kể từ khi khởi tố bị can. Và trong giai đoạn điều tra, luật sư có quyền dự cung (tham dự buổi hỏi cung (chứ không phải là “thẩm vấn” đối với bị can cùng điều tra viên). Tuy nhiên, trên thực tế điều này hiếm khi xảy ra. Vì cán bộ điều tra thường “không thích” sự có mặt của luật sư trong giai đoạn này, nên thường đưa ra nhiều lý do, gây khó khăn cho luật sư. Tôi có nhiều kinh nghiệm thực tế trong việc này.

Tuy nhiên, sau khi đã kết thúc giai đoạn điều tra (có bản Kết luật điều tra), thì luật sư có thể dễ dàng hơn trong việc liên hệ và tiếp xúc với bị can trong trại tạm giam. Còn lúc này, người thân của anh bị tạm giam và đang trong giai đoạn điều tra, nên ngay cả luật sư cũng rất khó tiếp xúc – như đã nói ở trên.

Tôi cho rằng không phải là cơ quan điều tra “chưa thẩm vấn” người thân của anh, mà do thực chất quá trình điều tra đang diễn ra, nên chắc chắn người thân của anh đã được hỏi cung nhiều lần. Hiếm khi nào tạm giam cả tháng mà chưa hỏi cung.

Còn chuyện có ép cung hay dùng nhục hình (tra tấn) như anh lo âu - về nguyên tắc là tuyệt đối bị cấm. Nhưng đúng là trên thực tế vẫn có thể xảy ra. Và dù muốn hay không thì bị can (và mọi người) cũng phải chấp nhận thực tế này. Nếu có thể thì khiếu nại, tố cáo khi có cơ hội (giả sử là có chuyện ép cung, nhục hình). Nhưng theo tôi vấn đề quan trọng hơn là người thân của anh có tội hay không ? và làm sao để gỡ tội ?, để được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể - đó chính là công việc có phần nặng nhọc của luật sư.

Trong thời gian bị tạm giam, gia đình có thể được liên hệ hay thăm nuôi bị can. Tôi nhấn mạnh từ “có thể” ở đây. Theo qui định tại Luật thi hành tạm giữ, tạm giam (2015) - có hiệu lực từ ngày 1-7-2016, thì người bị tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư và do Thủ trưởng cơ sở tạm giam, tạm giữ quyết định. (xem các điều luật trích bên dưới). Như vậy, có thể hiểu là việc gia đình và luật sư được gặp người thân đang bị tạm giam là quyền luật định. Tuy nhiên cụ thể thế nào phụ thuộc vào quyết định của Thủ trưởng cơ sở tạm giam, tạm giữ. Nói tóm lại, dù lo lắng, trước mắt gia đình cần bình tĩnh, hiểu rõ các qui định như nêu trên để khỏi nóng ruột, bức xúc. Rồi sẽ tới lúc có cơ hội để luật sư vào tiếp xúc với bị can. Thân mến. www.ecolaw.vn

.............

Quy định tại Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015:
 

Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

1. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:

a) Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

b) Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

c) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

d) Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

đ) Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

e) Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

g) Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam;

h) Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

i) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

k) Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

2. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam;

b) Chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

 

Điều 22. Việc gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

1. Người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng; trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý. Thời gian mỗi lần gặp không quá một giờ.

2. Người đến thăm gặp phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong trường hợp là thân nhân của họ. Việc thăm gặp phải chịu sự giám sát, theo dõi chặt chẽ của cơ sở giam giữ;

không làm ảnh hưởng đến các hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền; tuân thủ quy định về thăm gặp; trường hợp cơ quan thụ lý vụ án có yêu cầu thì phối hợp với cơ sở giam giữ để giám sát, theo dõi việc thăm gặp.

Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định cụ thể thời điểm thăm gặp; thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

3. Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh; phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa.

4. Thủ trưởng cơ sở giam giữ không đồng ý cho thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong các trường hợp sau đây và phải nêu rõ lý do:

a) Thân nhân không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp thân nhân do thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án; người bào chữa không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

b) Trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ an toàn cơ sở giam giữ hoặc để tổ chức truy bắt người bị tạm giữ, người bị tạm giam bỏ trốn;

c) Khi có dịch bệnh xảy ra tại khu vực có cơ sở giam giữ;

d) Khi cấp cứu người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;

đ) Khi đang lấy lời khai, hỏi cung hoặc người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang tham gia các hoạt động tố tụng khác;

e) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam không đồng ý thăm gặp; trường hợp này, người thăm gặp được trực tiếp gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc không đồng ý thăm gặp;

g) Người đến thăm gặp cố ý vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ từ hai lần trở lên;

h) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang bị kỷ luật theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này.

5. Việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người nước ngoài được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này. Việc tiếp xúc lãnh sự, tổ chức nhân đạo được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận quốc tế hoặc thỏa thuận về từng trường hợp cụ thể giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc với tổ chức nhân đạo. Việc tiếp xúc, thăm gặp có thể mời đại diện của cơ quan ngoại giao Việt Nam hoặc đại diện Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng tham dự.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

.........



 

Chuyên mục Luật sư tư vấn do các luật sư thuộc công ty luật hợp danh Ecolaw thực hiện. Quý vị hãy gửi câu hỏi theo địa chỉ email ecolaw2@gmail.com để được giải đáp hoàn toàn miễn phí - trừ trường hợp câu hỏi quá phức tạp hoặc không rõ ràng. Thông tin càng chi tiết, đầy đủ - nội dung tư vấn càng chính xác, hiệu quả. Phần lớn các câu hỏi - đáp (được mã hóa để bảo mật) sẽ được đăng trên website này nhằm mục đích phổ biến kiến thức pháp luật phổ thông cho mọi người.
Lưu ý: Bài viết trên thuộc lĩnh vực "Hình sự"
Công ty luật hợp danh ECOLAW - địa chỉ tin cậy của mọi người!
Email: ecolaw1@gmail.comwww.ecolaw.vn
 
 
Công ty luật hợp danh Ecolaw giữ bản quyền nội dung trên website này
Trụ sở: 23 Lê Lư, P. Phú Thọ Hoà, Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh
Website: www.ecolaw.vn - Email: ecolaw1@ecolaw.vn